Chương 4: Căn chòi bên bờ đê, bắp ngô và chân gà cay
Truyện audio Bắt Cóc Nhầm Vị Hôn Thê Bỏ Trốn Của Tổng Tài · 7 chương
Hẹn giờ
Căn chòi nhỏ hơn tôi nghĩ: mái lá thủng vài chỗ, một chiếc phản tre, mấy bó rơm khô và ít nông cụ. Nhưng sau nhà kho với cánh đồng bùn, với tôi nó đáng giá một khách sạn năm sao. Tôi ngồi bệt xuống phản. Anh đứng ngoài cửa nhìn đôi chân lấm bùn của mình với vẻ mặt khó tả, bảo đang cân nhắc độ ô nhiễm của cái phản.
Tôi nhắc anh vừa chạy chân đất qua ruộng, cái phản đâu còn đủ tư cách làm anh bẩn thêm. Anh liếc tôi nhưng rồi cũng ngồi xuống mép phản. Điện thoại tôi còn mười một phần trăm pin và sóng chập chờn một vạch; điện thoại anh thì đã chìm trong chảo dầu ở chợ. Tôi bật cười rồi vội nén lại, vì cười người vừa bị bắt cóc hơi thất đức.
Thấy vết dây hằn đỏ trên cổ tay anh và mảng áo cháy xém do điện, tôi hỏi anh có ổn không. Anh ngạc nhiên trước câu hỏi ấy, đáp chưa chết được; tôi nói mình hỏi nghiêm túc, anh bảo mình cũng trả lời nghiêm túc. Gió lùa qua vách làm tôi rùng mình, chiếc hoodie ướt mồ hôi giờ dính lạnh vào lưng. Tôi đang ôm tay định chui vào đống rơm thì một chiếc áo sơ mi phủ xuống vai: anh chỉ còn lại chiếc áo thun mỏng, mặt quay đi nơi khác.
Tôi hỏi anh không sợ tôi làm bẩn áo sao, anh bảo nó đã rách vai lại dính bùn, chẳng còn gì để cứu. Tôi chúc mừng anh vừa qua giai đoạn đầu của giác ngộ, tức biết buông bỏ; anh bảo mình chỉ đang đánh giá thiệt hại tài sản. Khi tôi kéo chiếc áo sát vai hơn, khóe môi anh hình như khẽ động. Có lẽ đó là câu gần với tinh thần buông bỏ nhất mà một người mắc bệnh sạch sẽ từng thốt ra.
Trong góc chòi có một can nước sạch, vài bắp ngô còn nguyên vỏ và cái nồi nhôm cũ. Mẩu giấy trên vách ghi số điện thoại chủ chòi nhưng gọi không có sóng, nên tôi đặt hai trăm nghìn dưới chiếc bát úp, tiền ngô, và bảo anh tôi ham ăn chứ đâu phải ăn cướp. Anh nhắc tôi vừa phá khóa bằng kẹp tăm; tôi cãi rằng phá khóa để thoát thân là sinh tồn, phá khóa tủ lạnh để ăn bánh kem thì là chuyện nhà, không tính.
Anh quay sang tôi nói mình bắt đầu hiểu vì sao mẹ tôi phải khóa tủ lạnh, tôi hỏi anh đứng về phe nào, anh đáp phe cái tủ lạnh. Tôi nhóm lửa bằng rơm với chiếc bật lửa trên kệ, chẳng bao lâu căn chòi ấm lên, nước sôi, mùi ngô nếp thơm lan ra. Bụng tôi lập tức phản ứng, và đúng khi anh đang giả vờ không nghe thì bụng anh cũng réo. Anh ngó đi chỗ khác nói đó là phản ứng sinh lý, tôi bảo mình đâu nói gì, anh bảo mặt tôi đang nói thay.
Tôi chìa cho anh nửa bắp ngô. Anh nhìn vài giây rồi mới cắn một miếng. Tôi chờ một bài giảng về carbohydrate hay vệ sinh thực phẩm nhưng anh chỉ nhai, rồi cắn tiếp. Tôi chọc rằng hóa ra tổng tài cũng có dạ dày, tôi cứ tưởng chạy bằng pin lithium; anh dừng nhai, bảo hối hận vì đã đưa áo cho tôi.
Tôi nói muộn rồi, áo đang thuộc quyền quản lý tạm thời của bên nhận cứu trợ. Anh nhìn tôi, hỏi tôi im lặng ăn được không, tôi đáp không. Lần này khóe môi anh cong lên thật sự. Tôi sững một nhịp: từ lúc gặp, tôi chỉ thấy anh cau mày, lạnh mặt, khinh khỉnh, nổi cáu; đây là lần đầu anh cười mà không có ý châm chọc. Không hiểu sao tôi thấy anh bớt đáng ghét hẳn.
Lục ba lô, tôi thấy hai gói chân gà cay vẫn nguyên vẹn nhờ lớp hút chân không và giơ lên như khoe báu vật. Anh hỏi có phải thứ tôi giấu trong người lúc bị trói không, rồi chê khái niệm sạch của tôi đáng lo. Tôi bảo đó là thực phẩm cao cấp có hộ tống, được tôi dùng tính mạng bảo vệ suốt quãng đường; anh nhắc nó từng nằm gần tất chân tôi, tôi dặn anh đừng phá hỏng mỹ cảm. Tôi xé gói, mùi cay thơm bốc lên, và khi tôi cắn miếng đầu tiên, tôi thấy anh khẽ nuốt nước bọt. Tôi giả vờ không thấy, chìa một cái: thử đi, không chết đâu.
Anh do dự rồi nhận. Miếng đầu khiến anh ho tới đỏ cả tai, tôi cười lăn lộn rồi đưa nước, anh uống nửa cốc. Nhưng vài giây sau anh vẫn cắn tiếp, và nhìn cảnh ấy tôi thấy như vừa dụ được một con mèo quý tộc ăn vụng cá khô. Tôi bảo đời còn nhiều thứ ngon lắm, đừng tự nhốt mình trong ức gà với rau luộc. Anh khựng lại hỏi sao tôi biết anh ăn ức gà. Tôi vội khoát tay nói mình đang nói chung về mấy người có tiền hay hành xác bằng thực đơn giảm mỡ. Anh nhìn tôi thêm một giây rồi thôi không hỏi.
Gió thổi qua đồng, trong căn chòi bé xíu hai kẻ vừa thoát một vụ bắt cóc đang ngồi san sẻ ngô nướng cùng chân gà cay, và kỳ lạ là tôi thấy yên lòng, có lẽ vì lần đầu trong đêm không phải chạy nữa. Anh dựa vách tre, ánh lửa làm đường nét lạnh lùng mềm đi. Anh hỏi sao tôi có mặt ở chợ đêm lúc gần nửa đêm; tôi nói mình bỏ nhà đi. Anh chê người trưởng thành bỏ nhà mà chỉ mang năm trăm nghìn, hai gói chân gà và dép lào, tôi nghẹn một nhịp rồi cãi rằng ít nhất mình còn có sạc dự phòng.
Rồi tôi kể: nhà muốn tôi liên hôn, sáng mai hai bên gặp mặt chính thức, tôi chưa gặp người kia nhưng nghe đồn anh ta sống như cái đồng hồ báo thức biết đi, sạch quá đà, ăn gì cũng đếm calo. Tôi hình dung cảnh nửa đêm vừa mở gói khoai tây chiên thì anh ta bước ra cầm cân điện tử hỏi vừa nạp bao nhiêu natri, rồi sáng hôm sau phạt chạy mười cây. Sống thế thà lấy nồi lẩu, vì nồi lẩu ít nhất nóng tính mà không phán xét. Người đàn ông đang uống nước chợt ho, nói tôi tưởng tượng phong phú; tôi bảo đó là phòng ngừa rủi ro hôn nhân.
Anh hỏi có phải chỉ vì ăn uống. Tôi bảo không chỉ thế, tôi ghét cảm giác đời mình đã bị người khác định sẵn: cưới một người chưa gặp vì hai nhà thấy có lợi rồi sống đúng cái khuôn con dâu hào môn nào đó, nghĩ thôi đã mệt. Ăn uống chỉ là điều dễ nói nhất, thực ra tôi sợ có ngày thức dậy nhìn người bên cạnh mà nhận ra mình sống cả đời theo ý kẻ khác.
Lần này anh không châm chọc. Nhìn ngọn lửa rất lâu, anh nói sáng mai anh cũng có một cuộc gặp. Tôi hỏi có phải anh cũng bị ép cưới, anh nói gần như vậy. Tôi vỗ đùi hỏi giới nhà giàu hết người để yêu hay sao mà cứ ghép đôi như sáp nhập công ty, anh bảo câu đó nên hỏi bố mẹ tôi trước.
Anh kể rất ít, nhưng đủ để tôi thấy đời anh từ nhỏ đã được xếp lịch: trường do gia đình chọn, ngành do hội đồng cố vấn tính, tốt nghiệp xong vào công ty tiếp quản dần quyền lực, mọi thứ hợp lý đến mức chẳng còn chỗ cho sở thích. Anh từng nghĩ thế là tốt vì mọi thứ tính trước thì sẽ không sai sót.
Rồi anh nhìn chiếc dép hoa cúc cạnh chân: đêm nay bị bắt cóc, bị kéo qua ruộng bùn, ăn ngô trong chòi thủng mái và đi dép của người lạ, không điều nào nằm trong kế hoạch. Tôi phì cười bảo anh phát hiện mình vẫn sống được, anh thừa nhận khá miễn cưỡng, nhưng sống được.
Một lát sau anh hỏi: nếu người tôi gặp sáng mai không giống lời đồn thì sao? Tôi bảo không cấm tôi ăn cá viên cộng một điểm, không bắt tôi dậy năm giờ chạy mười cây cộng mười điểm, nếu chịu ngồi ăn lẩu với tôi thì lẩu cá chua cộng hai, lẩu cay Tứ Xuyên cộng năm, tự bóc tôm cộng ba. Anh hỏi tiêu chuẩn chọn chồng của tôi tính bằng thực đơn à, tôi nói đó mới là vòng sơ loại. Tôi nheo mắt hỏi sao anh tò mò thế, anh nói khảo sát hành vi con người, và tôi chê anh bệnh nghề nghiệp.
Nghĩ một chút, tôi trả lời thật: nếu người đó chịu nghe tôi nói, không coi tôi là món hàng trong hợp đồng, tôi sẽ ngồi xuống nói chuyện; còn nếu chỉ cần một cô vợ đẹp đứng cạnh trong tiệc tối, tôi sẽ lại bỏ nhà. Anh dặn lần sau nên mang nhiều tiền hơn; tôi nói mình có thẻ, anh hỏi vậy sao chỉ mang năm trăm nghìn, tôi bảo lúc nổi loạn tôi giàu cảm xúc nhưng nghèo kế hoạch.
Tôi hỏi ngược lại nếu cô gái kia không giống tiểu thư anh nghĩ thì sao, anh nói sẽ gặp cô ấy trước khi quyết định, nhờ một người tối nay đã chứng minh đánh giá người qua vẻ ngoài là việc khá ngu. Tôi ngẩn ra hỏi có phải anh đang khen tôi; anh bảo mình đang tự kiểm điểm. Khó nghe thật, nhưng tôi vẫn cười.
Gió đêm dịu dần, lửa thu lại thành lớp tro. Tôi kéo chiếc sơ mi của anh sát vai, hai đứa ngồi cạnh nhau, chẳng ai nói thêm. Tôi chưa biết tên anh, anh cũng chưa hỏi tên tôi, và kỳ lạ thay, lúc ấy chuyện đó không quan trọng. Có những người quen nhau nhiều năm vẫn chỉ biết lớp vỏ, còn tôi và gã này mới gặp vài tiếng đã vô tình nhìn nhau trong dáng vẻ tồi tệ nhất: tôi đầu bù, áo hình lợn, mép dính tương ớt; anh dính bùn, mất giày, bị ép đi dép hoa cúc.
Chẳng ai còn gì để giả bộ. Tôi ngáp, dặn nếu mai thoát được thì anh nhớ gặp cô vợ tương lai cho tử tế, đừng vừa thấy đã lấy khăn che mũi như lúc gặp tôi. Anh quay sang dặn lại: cô cũng đừng vừa gặp đã nhét bánh vào miệng rồi cố làm mình xấu đi. Tôi ngồi thẳng dậy hỏi sao anh biết tôi định thế, anh nói đoán thôi. Tôi chê đoán thế đáng ghét, anh khẽ cười. Chân trời ngoài kia bắt đầu nhạt màu.